image banner
Quy định của pháp luật về kết hôn
Giới thiệu đến quý vị một số quy định của pháp luật về kết hôn theo Luật HNGĐ năm 2014

    NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG CỦA LUẬT

    Tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống không chỉ đi ngược với thuần phong, mỹ tục của người Việt mà còn vi phạm pháp luật và nguy hại hơn là để lại cho gia đình, xã hội và thế hệ tương lai những hệ lụy khôn lường. Kết hôn sớm làm mất đi cơ hội học tập, việc làm, cơ hội cải thiện điều kiện sống và chăm sóc sức khỏe của bà mẹ và trẻ em, đặc biệt hôn nhân cận huyết thống ảnh hưởng nghiêm trọng đến giống nòi, phát triển trí tuệ, chất lượng dân số và nguồn nhân lực vùng dân tộc thiểu số. Vì vậy ngăn ngừa, đẩy lùi tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống nói chung, trong vùng dân tộc thiểu số nói riêng là trách nhiệm mỗi cá nhân, gia đình cộng đồng và của cả hệ thống chính trị.

    Luật Hôn nhân và gia đình được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 19 tháng 6 năm 2014, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2015, gồm 9 chương,  133 điều, quy định chế độ hôn nhân và gia đình; chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử giữa các thành viên gia đình; trách nhiệm của cá nhân, tổ chức, Nhà nước và xã hội trong việc xây dựng, củng cố chế độ hôn nhân và gia đình. những quy định cụ thể của luật như sau:

    Theo khoản 3, Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: Chế độ hôn nhân và gia đình là toàn bộ những quy định của pháp luật về kết hôn, ly hôn; quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con, giữa các thành viên khác trong gia đình; cấp dưỡng; xác định cha, mẹ, con; quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài và những vấn đề khác liên quan đến hôn nhân và gia đình.

    Điều 2 Luật HNGĐ năm 2014 quy định 5 nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình như sau:

    1. Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng.

    2. Hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc, tôn giáo, giữa người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa người có tín ngưỡng với người không có tín ngưỡng, giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.

    3. Xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; các thành viên gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; không phân biệt đối xử giữa các con.

    4. Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ, hỗ trợ trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật thực hiện các quyền về hôn nhân và gia đình; giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ; thực hiện kế hoạch hóa gia đình.

    5. Kế thừa, phát huy truyền thống văn hóa, đạo đức tốt đẹp của dân tộc Việt Nam về hôn nhân và gia đình.

    Quan hệ hôn nhân và gia đình được xác lập, thực hiện theo quy định của Luật HN&GĐ, được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ. Bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình là trách nhiệm của toàn xã hội nhằm góp phần quan trọng vào việc đề cao vai trò của gia đình trong đời sống xã hội; giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa, đạo đức tốt đẹp của gia đình Việt Nam, xây dựng chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của các thành viên trong gia đình, tăng cường và phát huy ý thức trách nhiệm, thái độ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Để bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình một cách có hiệu quả hơn, Luật HN&GĐ quy định các hành vi bị cấm thực hiện gồm:

    - Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo;

    - Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;

    - Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;

    - Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;

    - Yêu sách của cải trong kết hôn;

    - Cưỡng ép ly hôn, lừa dối ly hôn, cản trở ly hôn;

    - Thực hiện sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản vì mục đích thương mại, mang thai hộ vì mục đích thương mại, lựa chọn giới tính thai nhi, sinh sản vô tính;

    - Bạo lực gia đình;

    - Lợi dụng việc thực hiện quyền về hôn nhân và gia đình để mua bán người, bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục hoặc có hành vi khác nhằm mục đích trục lợi.

    Luật hôn nhân, gia đình quy định cụ thể về quan niệm  hôn nhân, kết hôn, cụ thể:

    Theo khoản 1, Điều 3 Luật HNGĐ năm 2014 quy định: Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn.

    Theo khoản 5, Điều 3 Luật HNGĐ năm 2014 quy định: Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật HNGĐ về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn.

    Nam, nữ muốn kết hôn với nhau phải đáp ứng các điều kiện được quy định tại Điều 8 Luật HNGĐ:

    - Điều kiện về độ tuổi: Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;

    - Điều kiện về thể hiện ý chí, nguyện vọng trong xác lập quan hệ hôn nhân: Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;

    - Điều kiện về năng lực chủ thể: Nam, nữ không bị mất năng lực hành vi dân sự;

    - Điều kiện không vi phạm các trường hợp cấm kết hôn: Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c, và d khoản 2 Điều 5 của Luật này.

    Ngoài ra, Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính.

    Quyền kết hôn, lập gia đình và bình đẳng trong hôn nhân đã được nhà nước ta thừa nhận là một trong những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình, quy định tại Điều 2 Luật HNGĐ. Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định được thể hiện ở những quyền sau:

    - Thứ nhất, quyền tự do, tự nguyện trong kết hôn, tức là nam và nữ đủ điều kiện kết hôn theo quy định được kết hôn và lập gia đình một cách tự do, tự nguyện mà không bị ép buộc, cản trở.

    - Thứ hai, khi đã kết hôn thì vợ chồng có quyền tự do, bình đẳng đối với tất cả các vấn đề nảy sinh trong đời sống gia đình, ví dụ như việc lựa chọn nơi cư trú, tổ chức cuộc sống, giáo dục con cái, quản lý tài sản....

    - Thứ ba, tự nguyện trong hôn nhân là sự tự nguyện, tự do và bình đẳng trong việc giải quyết chấm dứt hôn nhân: tức là không được có bất cứ sự phân biệt đối xử ép buộc đối với bất kỳ các bên trong những vấn đề như cơ sở và các thủ tục ly hôn, việc trông nom, chu cấp, nuôi dưỡng, thăm nom con cái....

    Theo quy định của Luật HNGĐ năm 2014, việc đăng ký kết hôn chỉ được tiến hành khi các bên đăng ký có đầy đủ các điều kiện quy định tại Điều 8 Luật HNGĐ.

    Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật HNGĐ và pháp luật về hộ tịch. Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định của pháp luật thì không có giá trị pháp lý.

    Vợ chồng đã ly hôn muốn xác lập lại quan hệ vợ chồng thì phải đăng ký kết hôn.

    Khi đăng ký kết hôn cần những loại giấy tờ sau đây:

    1. Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.

    2. Chứng minh thư nhân dân hoặc Hộ chiếu hoặc giấy tờ tùy thân khác của cả hai bên nam nữ (để xuất trình khi đăng ký kết hôn).

    3. Hộ khẩu thường trú hoặc giấy đăng ký tạm trú của cả hai bên nam nữ.

    4. Với trường hợp một trong hai bên nam nữ tại nơi đăng ký kết hôn vì các lý do chính đáng, người vắng mặt phải chuẩn bị một tờ đơn xin vắng mặt, trong đó trình bày rõ lý do không thể đến, có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã/phường/thị trấn nơi xin vắng mặt cư trú.

St&bt: Lữ Văn Bình

Văn Bình - xã Phong Niên
Đăng nhập

Bản quyền thuộc tỉnh Lào Cai

Cơ quan chịu trách nhiệm chính: UBND xã Phong Niên

Điện thoại liên hệ: 02143 864 306

Địa chỉ: thôn Cốc Sâm 2, xã Phong Niên, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai


      

Designed by VNPT
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1